Công bố “Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao cấp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

Ngày 18/10/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Hội nghị công bố Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao cấp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Thông qua việc tổ chức công bố 02 Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 và Quyết định số 991/QĐ-TTg ngày 16/9/2024 góp phần tuyên truyền sâu rộng về những nội dung cơ bản, ý nghĩa, mục tiêu của 02 Quyết định Quy hoạch trong các cấp ủy đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn Ngành, người dân và cộng đồng doanh nghiệp, từ đó tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động để sớm đưa 02 Quyết định Quy hoạch của Thủ tướng vào cuộc sống, cụ thể như sau:

Hòn Mây rút (nguồn: Ảnh đẹp Du lịch)

1. QUYẾT ĐỊNH SỐ 509/QĐ-TTG NGÀY 13/6/2024

        Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, quy hoạch phát triển không gian du lịch Việt Nam gồm: 06 vùng, 03 cực tăng trưởng, 08 khu vực động lực, 05 hành lang du lịch chính, 11 trung tâm du lịch; hình thành hệ thống các Khu du lịch quốc gia và địa điểm tiềm năng phát triển thành Khu du lịch quốc gia. Cụ thể, xây dựng và hình thành 08 khu vực động lực phát triển du lịch để tập trung nguồn lực, phát huy tối đa hiệu quả đầu tư, lan tỏa, thúc đẩy những lợi ích và giá trị của du lịch.

 Đến 2030, tập trung hình thành 06 khu vực động lực:

1- Khu vực động lực phát triển du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình: Thúc đẩy phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng, rộng hơn là cả khu vực miền Bắc, gắn kết đa dạng và bổ trợ lẫn nhau về sản phẩm du lịch văn hoá lịch sử với du lịch biển, di sản thế giới.

2- Khu vực động lực phát triển du lịch Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh: Tạo sự hỗ trợ theo hướng kết hợp đa dạng sản phẩm du lịch gắn với sinh thái, di sản thế giới, văn hóa lịch sử, tín ngưỡng với du lịch biển, du lịch về nguồn, du lịch cộng đồng gắn với các dân tộc thiểu số vùng núi.

3- Khu vực động lực phát triển du lịch Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam: Thúc đẩy phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; kết nối các di sản thế giới trong nước với quốc tế, gắn kết các sản phẩm du lịch văn hóa với du lịch đô thị và nghỉ dưỡng biển.

4- Khu vực động lực phát triển du lịch Khánh Hòa - Lâm Đồng - Ninh Thuận - Bình Thuận: Thúc đẩy phát triển du lịch trên cơ sở tăng cường liên kết giữa vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với vùng Tây Nguyên; đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở kết nối giữa du lịch nghỉ dưỡng núi với nghỉ dưỡng biển, văn hoá vùng đồng bằng với không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.

5- Khu vực động lực phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh - Bà Rịa - Vũng Tàu: Thúc đẩy phát triển du lịch toàn bộ vùng Đông Nam Bộ, gắn kết phát triển du lịch với hành lang kinh tế phía Nam.

6- Khu vực động lực phát triển du lịch Cần Thơ - Kiên Giang - Cà Mau: Thúc đẩy phát triển du lịch toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, gắn kết phát triển du lịch với hành lang kinh tế ven biển thuộc hành lang kinh tế phía Nam.

Sắc màu Grandworld (Nguồn: Ảnh đẹp Du lịch)

Giai đoạn sau 2030, hình thành 02 khu vực động lực:

1- Khu vực động lực phát triển du lịch Lào Cai - Hà Giang: Thúc đẩy phát triển du lịch toàn bộ vùng Trung du và Miền núi phía Bắc kết nối với thị trường khách du lịch ở Vân Nam (Trung Quốc) và gắn kết phát triển du lịch theo hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng;

2- Khu vực động lực phát triển du lịch Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên: Thúc đẩy phát triển du lịch cho khu vực tiểu vùng Tây Bắc thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, gắn kết phát triển du lịch theo hành lang kinh tế Đông Tây theo quốc lộ 6.

II.  QUYẾT ĐỊNH SỐ 991/QĐ-TTG NGÀY 16/9/2024

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long đã ký Quyết định số 991/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao cấp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định phê duyệt và giao nhiệm vụ cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Thủ tướng Chính phủ là công cụ quan trọng để thực hiện chủ trương, đường lối và chính sách phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới. Cụ thể 3 phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao, gồm các nội dung sau:

Múa Rồng lễ hội Nguyễn Trung trực (Nguồn: Ảnh đẹp Du lịch)

1. Về Mạng lưới cơ sở văn hóa quốc gia

a) Mạng lưới bảo tàng

- Hoàn thiện và mở rộng mạng lưới bảo tàng với hạt nhân là các bảo tàng quốc gia. Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa các tài liệu, hiện vật, bảo vật quốc gia, tăng cường kết nối, liên kết, chia sẻ dữ liệu giữa các bảo tàng quốc gia với bảo tàng chuyên ngành và các bảo tàng cấp tỉnh. Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động để xây dựng bảo tàng thành trung tâm thông tin về khoa học, văn hóa, lịch sử và điểm đến hấp dẫn, thu hút du khách tham quan và trải nghiệm.

- Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất đáp ứng quy mô, tiêu chuẩn chuyên ngành đạt cấp I trở lên đối với các bảo tàng quốc gia và cấp II trở lên đối với các bảo tàng còn lại.

- Nghiên cứu, xây dựng mới 02 bảo tàng quốc gia (Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) và một số bảo tàng chuyên ngành, như: Bảo tàng Tiền Việt Nam, Bảo tàng Kiến trúc Việt Nam, Bảo tàng Giáo dục Việt Nam, Bảo tàng Nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long.

- Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của các bảo tàng quốc gia (Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam); các bảo tàng chuyên ngành (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Báo chí Việt Nam, Bảo tàng Văn học Việt Nam, Bảo tàng Tuổi trẻ Việt Nam, Bảo tàng Công nhân và Công đoàn Việt Nam, Bảo tàng Bưu điện Việt Nam, Bảo tàng Địa chất Việt Nam, Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bảo tàng Công an nhân dân, Bảo tàng Công an Hà Nội; các bảo tàng thuộc Bộ Quốc phòng).

- Đầu tư, nâng cấp trở thành bảo tàng cấp quốc gia đối với một số bảo tàng chuyên ngành: Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Hải Dương học, Bảo tàng Địa chất Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

b) Mạng lưới thư viện

- Phát triển mạng lưới cơ sở thư viện gồm Thư viện quốc gia Việt Nam, thư viện chuyên ngành đóng vai trò đầu ngành, thư viện thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, thư viện các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia và đại học vùng, một số thư viện công cộng cấp tỉnh có vai trò trung tâm vùng.

- Đầu tư cơ sở vật chất theo hướng hiện đại, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đọc và tra cứu thông tin của người dân; bảo đảm quy mô, tiêu chuẩn chuyên ngành đạt cấp I trở lên đối với thư viện quốc gia và cấp II trở lên đối với các thư viện khác trong mạng lưới.

- Tăng cường năng lực hoạt động thư viện số, ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, vận hành thư viện theo hướng hiện đại. Hoàn chỉnh hệ cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu thư viện Việt Nam, tài nguyên thông tin mở, có khả năng liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài.

- Nâng cấp Thư viện quốc gia Việt Nam theo hướng hiện đại, ngang tầm khu vực, đáp ứng vai trò thư viện trung tâm của cả nước; xây dựng Trung tâm bảo quản dữ liệu số quốc gia với hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại và đồng bộ.

- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số cho một số thư viện chuyên ngành quan trọng, như: Thư viện Quốc hội, thư viện Bộ Công an, thư viện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thư viện Bộ Xây dựng, thư viện Bộ Tư pháp, thư viện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thư viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và một số thư viện khác thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.

- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển trở thành các trung tâm thông tin, giáo dục đối với thư viện của các đại học quốc gia, đại học vùng theo quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch khác liên quan.

- Xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu đối với một số thư viện công cộng cấp tỉnh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đóng vai trò là trung tâm của các vùng kinh tế - xã hội.

c) Mạng lưới cơ sở điện ảnh

- Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng khoa học công nghệ cho các cơ sở phổ biến phim và cơ sở sản xuất phim để hoàn thiện mạng lưới cơ sở điện ảnh theo hướng hiện đại và đồng bộ.

- Phân bố mạng lưới cơ sở điện ảnh tại các địa phương đóng vai trò là trung tâm văn hóa của quốc gia và của vùng tại các vùng: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ. Hình thành các trung tâm điện ảnh gắn kết và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch.

- Hoàn thiện đầu tư, mở rộng, nâng cấp Trường quay Cổ Loa đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ đạt tầm cỡ khu vực và thế giới. Nghiên cứu, xây dựng mới các trường quay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh bảo đảm đáp ứng hoạt động quay phim và các khâu kỹ thuật tiền kỳ, hậu kỳ trong sản xuất phim theo công nghệ hiện đại.

- Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng công nghệ cho Trung tâm kỹ thuật điện ảnh và Trung tâm Điện ảnh Thể thao và Du lịch Việt Nam đáp ứng yêu cầu sản xuất phim theo công nghệ hiện đại, từng bước trở thành các trung tâm hàng đầu trong cung cấp các dịch vụ kỹ thuật điện ảnh.

- Nâng cấp quy mô các công trình trọng điểm: Trung tâm Chiếu phim Quốc gia tại Hà Nội lên cấp đặc biệt với sức chứa trên 3.000 chỗ ngồi; Rạp chiếu phim điện ảnh Quân đội nhân dân (Bộ Quốc phòng) đạt tiêu chuẩn quốc gia với sức chứa từ trên 1.200 đến 3.000 chỗ ngồi.

- Nghiên cứu, xây dựng mới 04 công trình là các trung tâm chiếu phim hiện đại tại: Hà Nội với sức chứa trên 3.000 chỗ ngồi; Đà Nẵng với sức chứa từ trên 1.200 đến 3.000 chỗ ngồi; Thành phố Hồ Chí Minh với sức chứa trên 3.000 chỗ ngồi; thành phố Huế (Trung tâm chiếu phim Quốc gia cơ sở 2) với sức chứa từ trên 1.200 đến 3.000 chỗ ngồi. Nghiên cứu, đầu tư xây dựng trung tâm điện ảnh hiện đại, đáp ứng việc tổ chức các hoạt động hội nghị, hội thảo, chiếu phim, sự kiện điện ảnh lớn trong nước và quốc tế tại những nơi có thị trường điện ảnh phát triển.

d) Mạng lưới cơ sở nghệ thuật biểu diễn

- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện nghệ thuật tầm cỡ quốc gia và quốc tế, mang bản sắc đặc trưng của địa phương và vùng miền, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống của các dân tộc Việt Nam.

- Hình thành các trung tâm nghệ thuật biểu diễn tại các đô thị lớn, các địa phương đóng vai trò trung tâm vùng và các khu vực có tiềm năng phát triển du lịch; gắn kết, tạo động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch; từng bước tạo dựng các thương hiệu quốc gia.

- Nghiên cứu, xây dựng mới 04 công trình trọng điểm đạt quy mô, sức chứa tối thiểu 1.200 chỗ ngồi, gồm: Nhà hát Nhạc, Vũ kịch Việt Nam, nhà hát Cải lương Việt Nam, nhà hát Kịch Việt Nam và Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.

- Nâng cấp 04 công trình đạt quy mô, sức chứa tối thiểu 1.200 chỗ ngồi, gồm: Nhà hát Chèo Việt Nam, nhà hát Tuồng Việt Nam, nhà hát Múa rối Việt Nam và nhà hát Tuổi trẻ Việt Nam.

- Đầu tư xây dựng các trung tâm nghệ thuật biểu diễn theo mô hình các tổ hợp trung tâm nghệ thuật biểu diễn với quy mô đạt cấp đặc biệt, sức chứa hơn 3.000 chỗ ngồi tại Hà Nội và Đà Nẵng; Trung tâm biểu diễn nghệ thuật hiện đại và Nhà hát tổng hợp quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh với sức chứa tối thiểu 1.200 chỗ ngồi cho mỗi cơ sở.

Đón mùa lễ hội (Nguồn: Ảnh đẹp Du lịch)

đ) Mạng lưới cơ sở triển lãm văn hóa, nghệ thuật

- Nghiên cứu, xây dựng mới và nâng cấp mạng lưới gồm 05 cơ sở triển lãm quốc gia, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tổ chức các sự kiện triển lãm trong nước và quốc tế, có quy mô, tiêu chuẩn chuyên ngành đạt từ cấp I trở lên; phân bố tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, phát triển hình thức triển lãm trực tuyến, đổi mới nội dung hoạt động theo hướng đưa triển lãm trở thành không gian sáng tạo văn hóa, nghệ thuật nhằm tăng sức hấp dẫn, có tính tương tác cao với công chúng; tăng cường quảng bá, hợp tác trong nước và quốc tế, khuyến khích việc tham gia đầu tư, tài trợ.

- Đầu tư xây dựng mới các công trình trọng điểm: Nhà triển lãm quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tâm Triển lãm văn hóa, nghệ thuật quốc gia tại thành phố Huế.

- Nâng cấp, cải tạo 03 công trình triển lãm văn hóa, nghệ thuật tại Hà Nội gồm: Trung tâm Triển lãm Văn hóa, Nghệ thuật Việt Nam; Trung tâm Giám định và Triển lãm tác phẩm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia tại Đông Anh.

e) Mạng lưới trung tâm văn hóa ở trong nước

- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí đủ nhân lực và kinh phí hoạt động để bảo đảm 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ 3 loại hình thiết chế văn hóa, gồm: Trung tâm văn hóa, bảo tàng, thư viện; 100% đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã có Trung tâm văn hóa - thể thao; 100% thôn, bản và tương đương có Nhà văn hóa - Khu thể thao. Các Trung tâm văn hóa cấp tỉnh, Trung tâm văn hóa - thể thao cấp huyện, xã và Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn, bản và tương đương đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

- Đổi mới phương thức tổ chức, quản lý, vận hành, nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả sử dụng của các trung tâm văn hóa ở trong nước phù hợp với tình hình thực tiễn của các ngành, các địa phương, theo hướng đa năng, tổng hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân trên địa bàn.

- Quan tâm hỗ trợ, đầu tư các thiết chế văn hóa, thể thao của tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên nhằm góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân, viên chức, người lao động, thanh thiếu nhi và Nhân dân trên địa bàn.

g) Trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài

- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm văn hóa Việt Nam tại Lào và Pháp.

- Nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền việc đầu tư xây dựng mới các trung tâm văn hóa Việt Nam tại các địa bàn như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ và Campuchia; về lâu dài, nghiên cứu mở rộng thêm đối với một số quốc gia có đông cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc.

Tôi yêu Việt Nam (Nguồn: Ảnh đẹp Du lịch)

h) Mạng lưới cơ sở nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật

- Tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật (thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế; trong đó ưu tiên tăng cường đầu tư cho 03 cơ sở đào tạo trọng điểm về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý.

- Nghiên cứu, xây dựng các viện nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật theo mô hình tiên tiến trên thế giới để thực hiện nhiệm vụ tư vấn chính sách, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển của ngành văn hóa.

i) Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

- Hoàn thiện đầu tư, hình thành trung tâm hoạt động văn hóa mang tính quốc gia, nơi tập trung tái hiện, gìn giữ, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam; tăng cường tình đoàn kết, giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của công dân Việt Nam; tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, hợp tác và trao đổi văn hóa với các dân tộc trên thế giới; phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch và nghiên cứu của Nhân dân trong nước và du khách quốc tế.

- Tập trung đầu tư 08 dự án cơ sở vật chất tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam từ nguồn ngân sách, trong đó có các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ giao. Phấn đấu đến năm 2030, cơ bản hoàn thành xây dựng các khu chức năng trên cơ sở kêu gọi đầu tư từ nguồn xã hội hóa, gồm: Khu Di sản văn hóa Thế giới; Khu Trung tâm văn hóa và khu vui chơi giải trí; Khu Công viên bến thuyền; Khu Cây xanh mặt nước hồ Đồng Mô và Khu Dịch vụ du lịch tổng hợp.

k) Cơ sở số hóa dữ liệu văn hóa

- Đầu tư hoàn thiện hệ thống quản lý dữ liệu số hóa văn hóa quốc gia từ trung ương đến các vùng, địa phương. Xây dựng không gian dữ liệu cộng đồng. Ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối, tích hợp đồng bộ với hệ cơ sở dữ liệu quốc gia. Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

- Nghiên cứu việc thành lập Trung tâm dữ liệu tác phẩm văn hóa, nghệ thuật và di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam, bảo đảm phù hợp, hiệu quả.

2. Mạng lưới cơ sở thể dục, thể thao quốc gia

a) Mạng lưới trung tâm đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao

- Xây dựng, nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, huấn luyện và nâng cao thành tích tại các đại hội thể thao châu lục và thế giới.

- Nghiên cứu, đầu tư xây dựng trung tâm huấn luyện quốc gia trọng điểm thuộc Khu Liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình (nếu phù hợp) để phục vụ huấn luyện vận động viên cho các môn thể thao trọng điểm, xác định mục tiêu huy chương tại Đại hội thể thao châu Á và Đại hội thể thao thế giới.

- Tổ chức phân bố mạng lưới các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia và trung tâm vệ tinh tại các khu vực, địa phương phù hợp với điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất..., đáp ứng yêu cầu huấn luyện chuyên sâu và tổ chức thi đấu các môn thể thao thế mạnh, trọng điểm; được sắp xếp hợp lý về tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

- Đầu tư các trung tâm đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao có quy mô, tiêu chuẩn chuyên ngành của công trình đạt cấp I, II, III đáp ứng yêu cầu huấn luyện, giảng dạy và tổ chức thi đấu quốc tế, quốc gia.

b) Mạng lưới trung tâm hoạt động thể thao

- Đầu tư, phát triển mạng lưới khu liên hợp thể thao quốc gia tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại, đồng bộ, bảo đảm theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành, đáp ứng yêu cầu tổ chức đại hội thể thao khu vực và châu lục.

- Hoàn thiện đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối, huy động nguồn lực đối với Khu Liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình đạt tiêu chuẩn tổ chức Đại hội thể thao châu Á. Nghiên cứu, đầu tư xây dựng Khu Liên hợp thể thao quốc gia Rạch Chiếc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị của Khu liên hợp thể thao quốc gia Hòa Xuân tại Đà Nẵng.

- Nghiên cứu, xây dựng, nâng cấp các khu liên hợp thể thao hoặc trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đóng vai trò là các cơ sở liên kết tổ chức các đại hội thể thao khu vực và châu lục, thúc đẩy phát triển thể dục, thể thao vùng, liên vùng, bảo đảm phù hợp với nhu cầu và khả năng huy động, cân đối, bố trí nguồn lực.

c) Mạng lưới cơ sở nghiên cứu, đào tạo thể dục, thể thao

- Nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống cơ sở nghiên cứu, đào tạo thể dục, thể thao quốc gia. Hoàn thành xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu thể dục, thể thao quốc gia, từng bước ứng dụng, khai thác dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu, đào tạo thể dục, thể thao.

- Các địa phương, ngành quân đội, ngành công an chủ động trong việc đáp ứng cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết, phù hợp để phục vụ tuyển chọn, đào tạo, làm cơ sở cung cấp vận động viên cho quốc gia.

- Cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị cho các cơ sở có tính chất trọng điểm, như: Viện Khoa học Thể dục thể thao và các trường: Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh, Đại học Thể dục thể thao Đà Nẵng, Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời, tăng cường tự chủ đối với các trường này, song song với đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách kinh tế và quản trị thể dục, thể thao. Trong đó, Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh trở thành trường tiên phong trong chuyển đổi số, có hệ thống quản trị hiện đại, thông minh, chuyên nghiệp vào năm 2030.

d) Mạng lưới cơ sở dịch vụ thể thao và chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng vận động viên

- Đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở dịch vụ thể thao và chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng vận động viên theo hướng mô hình cơ sở y tế chuyên ngành, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong công tác khám chữa bệnh, chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng cho vận động viên thể thao, các trọng tài, huấn luyện viên, cán bộ làm công tác thể thao và Nhân dân.

- Đầu tư, nâng cấp Bệnh viện Thể thao Việt Nam trở thành trung tâm khám bệnh, chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng cho vận động viên đạt trình độ khu vực và quốc tế.

- Nghiên cứu, đầu tư xây dựng Bệnh viện thể thao khu vực phía Nam trở thành vệ tinh trong hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu khám bệnh, chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng cho vận động viên và Nhân dân trong tập luyện và thi đấu thể thao.

3. Trụ sở cơ quan văn hóa, thể thao

 Tập trung đầu tư cơ sở vật chất theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của ngành theo quy chuẩn, tiêu chuẩn và nhu cầu thực tiễn; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động.

Trên cơ sở phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao, xác định các dự án lớn, có tính chất quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển mạng lưới cơ sở, hệ thống thiết chế văn hóa và thể thao cả nước, theo vùng để ưu tiên đầu tư và thu hút đầu tư, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng cân đối, huy động vốn đầu tư của từng thời kỳ; tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đầu tư công, ngân sách nhà nước, đất đai và pháp luật có liên quan.

        Hồng Lĩnh

                                                                   

Tải văn bản Phóng sự “Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao, Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045” tại đây! (LINK)